Giới thiệu về khoa 

GIỚI THIỆU VỀ KHOA

I. Bốn mưới năm ấy

  " Mùa hè năm 1966. Bộ Giáo dục đã có quyết định thành lập Trường ĐHSP Việt Bắc. Một số cán bộ giảng dạy Khoa Lý trường ĐHSP Hà Nội được cử lên Thái Nguyên xây dựng Khoa Lý trên đó. Khi chúng tôi đến địa điểm của trường, bộ phận tiền trạm chỉ một quả đồi có tên là Đồi Cọ và nói : “Đây là Khoa Lý của các anh”.

    Một thời gian sau, lực lượng chúng tôi được bổ sung thêm một số giáo viên lâu năm từ các trường phổ thông chuyển về. Những sinh viên đầu tiên bắt đầu tới Khoa. Thế là thầy trò khởi công “xây dựng Khoa” theo đúng nghĩa đen của nó, nghĩa là phát quang, san nền, chặt tre, dựng nhà. Chỉ có mấy tháng mà đã đủ nhà ở, lớp học, và sang thu thì khóa học đầu tiên khai giảng.

    Bốn năm sau, một Khoa Lý hoàn chỉnh đã hình thành. Khu rừng rậm rạp âm u sau Đồi Cọ nay đã quang quẻ với đầy đủ các lớp học, phòng thí nghiệm, thư viện, nhà ở, bếp ăn do công sức của thầy trò, và chủ yếu là của sinh viên.

   Sau bốn năm đầu xây dựng, Khoa Lý đã tự đảm nhiệm được việc giảng dạy tất cả các bộ môn, không phải mời người từ Hà Nội lên giúp. Thầy trò làm việc, học hành, lao động nghiêm túc, lạc quan, có chất lượng. Và Khoa Lý có tiếng vang sang cả các khoa bạn.

   Tinh thần làm việc hăng hái và hiệu quả đó tiếp tục được duy trì và phát triển cho tới ngày nay.

   Những ai đã từng sống những ngày gian lao và hào hùng của thời kì mở đầu đó thật khó hình dung được một Khoa Lý bề thế ngày nay với một cơ sở vật chất khang trang, một đội ngũ cán bộ mạnh mẽ và nhiệt tình, một lực lượng sinh viên đông đảo và hăng say.

   Trong thời gian công tác ở Khoa Lý, tôi đã từng nói với các đồng nghiệp của mình : Mong sao thầy trò Khoa Lý sẽ là những người phất cờ đi đầu dẫn dắt thanh niên các dân tộc đi vào khoa học. Bây giờ tôi vẫn ước mong như vậy và chúc Khoa Lý ta như vậy.

II. Khoa Lý những ngày đầu thành lập

    Cách đây tròn 40 năm, đầu tháng 8 năm 1966, trường ĐHSP Việt Bắc hình thành ở khu sơ tán Đại Từ, Thái Nguyên. Cán bộ được điều từ nhiều nơi về để lập bộ khung ban đầu, trong đó nòng cốt là một số cán bộ được tách ra hoặc cử đi biệt phái từ trường ĐHSP Hà Nội. Từ khoa Lý, bốn cán bộ được điều lên xây dựng khoa Lý trường ĐHSP Việt Bắc. Thầy Dương Trọng Bái, Khoa trưởng Khoa Lý ĐHSP Hà Nội lên làm hiệu phó ĐHSP Việt Bắc. Thầy Đào Văn Phúc được cử lên làm chủ nhiệm Khoa Lý. Thầy Nguyễn Mạnh Tuấn được 2 tuần để chuẩn bị lên lớp ngay 2 môn chính cho năm thứ nhất là Giải tích và Hình giải tích, làm tổ trưởng bộ môn Toán – Nga. Thầy Phạm Văn Đỗng làm công tác Đoàn và chuẩn bị dạy Điện. Ba cán bộ mới, khóa 1962-1965 sau một năm tập sự ở trường ĐHSP Hà Nội cũng được điều lên: Thầy Vũ Khắc Hiếu làm công tác Đảng và chuẩn bị dạy Cơ, Thầy Nguyễn Trọng Phú người miền Nam chuẩn bị dạy Nhiệt và thầy Đổng Thành Pin người dân tộc Tày Cao Bằng. 

    Ngoài bảy thầy trên, còn thầy Nguyễn Văn Đồng người dân tộc Tày - Bắc Kạn đã công tác ở trường Hà Nội từ 1961 đến 1965, sau đó vì hoàn cảnh gia đình về trường cấp 3 Phổ Yên, Bắc Thái, cũng được điều lên xây dựng trường cho con em các dân tộc miền núi.

   Từ các nơi khác về có thầy Nguyễn Ngọc Nhị cùng vợ là cô Quan Thục Anh từ Lạng Sơn, thầy Trần Văn Hóa từ Ninh Bình, thầy Nguyễn Ngọc Giao từ Thái Bình, thầy Phan Như Ngọc từ Hải Dương, thầy Đinh Văn Quyết từ Bắc Kạn, cô Lê Bạch Yến từ Liên Xô về, cô Diệp Ngọc Anh vợ thầy Đỗng từ trường Đại học Tổng hợp sang, thầy Trần Tú Dương dạy Nga Văn. Ngoài ra còn thợ điện Đặng Văn Chung, từ trường Sư phạm trung cấp Việt Bắc về.

    Giữa tháng 8 năm 1966, khi chuẩn bị khai giảng năm học đầu tiên của khóa I trường ĐHSP Việt Bắc, các thầy, cô của Khoa Lý họp mặt nhau ở nhà anh Chung ngồi vừa đầy “một giường cán bộ”. Kỉ niệm đó còn mãi trong lòng những anh chị em rời xa Hà Nội, xa gia đình lên đặt những viên gạch đầu tiên làm nền móng xây dựng nên Khoa Lý của trường ĐHSP Thái Nguyên sau này.

   Các cán bộ miền xuôi lần đầu lên miền núi được các thầy Đồng, thầy Pin chỉ dẫn cho cách chọn dao quắm lưỡi thép không non mà không quá già dễ mẻ, cách chặt cây nứa và tách đều thân cây làm đôi, cách chẻ lạt giang, cách phân biệt thế nào là hóp, là vầu, là tre, là mai… Các vết đứt tay, sứt chân … hầu như ai cũng có và lại là các kỉ niệm khó quên. Làm sao quên được những buổi thầy trò lên rừng nứa, vào Lũng Chúa… lấy cây que về dựng những mái nhà, lớp học đầu tiên trên Đồi Cọ xóm Trại Tre.

    Cô giáo Nguyễn Minh Thúy đã từng là người mẫu tranh sơn dầu nổi tiếng “Em Thúy”, người mảnh mai trắng trẻo không gánh được nước, thì thầy Phúc đã nhận phần “đảm đang”, hàng ngày như con thoi giữa giếng và nhà cách dăm chục mét. Đôi vai “thư sinh” của con cả cụ giáo Đào Văn Định thành Nam co co rụt rụt dưới chiếc đòn gánh tre trông thật thương cảm. Tấm gương không quản khó khăn vất vả xây dựng khoa từ bàn tay trắng của thầy Chủ nhiệm khoa đã động viên các cán bộ, sinh viên phấn đấu vượt qua mọi thiếu thốn, trở ngại để “dạy tốt, học tốt” từ những ngày đầu thành lập khoa. Từ công việc hàng ngày, nhiều thầy, cô cũng quen việc, trưởng thành, già dặn hơn : thầy Quyết làm trưởng ban lao động, thầy Tuấn trở thành trưởng ban kiến thiết của Khoa, thầy Đỗng làm Bí thư Liên chi đoàn… Sau một thời gian, các thầy cô người miền núi, miền Nam lần lượt được cử đi đào tạo ở nước ngoài, Khoa được bổ sung thầy Nguyễn Trọng Bình, Hoàng Văn Sơn ở Liên Xô về, các cán bộ trẻ mới tốt nghiệp : Đỗ Bình, Lê Vinh, rồi Phạm Hùng, Nguyễn Bình Thuận, Trương Thị Thưa. Tiếp các năm sau còn có các thầy cô Vũ Thế Khôi, Trần Văn San, Phạm Thị Cư, Phùng Thị Tuyết… 

    Trường ĐHSP Việt Bắc có nhiều ưu ái, động viên cán bộ, giáo viên quy tụ về trường và yên tâm công tác, với khẩu hiệu nổi tiếng trong những ngày đầu thành lập trường của thầy Hiệu trưởng Nguyễn Văn Tuất “Nâng trứng – Hứng hoa”. Tuy nhiên, do nhiều điều kiện và hoàn cảnh gia đình, sau nhiều năm khắc phục muôn vàn khó khăn, xây dựng cơ ngơi và nề nếp ban đầu cho trường ĐHSP Việt Bắc trong điều kiện chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ nơi sơ tán Đại Từ, nhiều thầy cô người miền xuôi lần lượt trở về. Thầy Bái sau một thời gian làm Hiệu trưởng ĐHSP Việt Bắc đã về làm Hiệu trưởng ĐHSP Hà Nội, sau đó về Vụ Cải cách Sư phạm. Thầy Phúc về Nhà xuất bản Giáo dục. Thầy Tuấn về lại Khoa Lý ĐHSP Hà Nội năm 1984 sau 18 năm xa cách. Thầy Đỗng chuyển vào công tác ở Khoa Lý ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh. Thầy Đồng sau một thời gian làm Chủ nhiệm Khoa Lý, rồi Hiệu phó ĐHSP Việt Bắc, bị ốm và mất năm 1989. Thầy Hiếu chuyển về quê ở Hải Dương công tác trước khi nghỉ hưu. Thầy Hóa và thầy Vinh chuyển về Hà Nội và đã mất. Thầy Phú vào Huế làm Trưởng phòng Khoa học rồi Chủ nhiệm Khoa Lý ở ĐHSP Huế, năm 1995 chuyển công tác ra Nhà xuất bản Giáo dục, ốm và mất năm 1996. Thầy Pin (sau đổi tên thành Đổng Văn Thành) vẫn tiếp tục ở lại Khoa, nhiều năm là Phó Chủ nhiệm Khoa.

    Hiện nay, các thầy, cô ở vùng Hà Nội đã từng làm việc tại Khoa Lý ĐHSP Việt Bắc (nay đã nghỉ hưu) vẫn thường đến thăm nhau, gặp mặt đông vui trong những dịp lễ tết hoặc cưới hỏi của lứa con, cháu đã từng được sinh ra và lớn lên từ mái ấm này. Thầy Nguyễn Trọng Bình ở An Dương, thầy Nguyễn Ngọc Nhị và cô Quan Thục Anh ở khu Thái Hà, thầy Nguyễn Mạnh Tuấn ở khu đô thị mới Trung Hòa – Nhân Chính, thầy Đinh Văn Quyết ở cuối đường Nguyễn Trãi, thầy Đào Văn Phúc ở Thanh Xuân Bắc, thầy Trần Tú Dương ở Bách Khoa, thầy Nguyễn Bình Thuận ở Phúc Yên… 

    Những lúc gặp nhau chuyện xa, chuyện gần, thế nào rồi cũng lại dẫn đến chuyện những ngày đầu thu năm 1966 trong bom đạn ở khu sơ tán Đại Từ - Thái Nguyên ngày đầu xây dựng Khoa Lý trường ĐHSP Việt Bắc. Tròn 40 năm đã qua mà những kỉ niệm cũ vẫn cứ dồn dập ập đến, rõ nét và thật cảm động – những kỉ niệm chẳng thể nào quên được!

III. Quá trình xây dựng và phát triển

    Quá trình xây dựng và phát triển Khoa Vật lý Trường ÐHSP Việt Bắc (Nay là Trường ÐHSP thuộc ÐHTN) được thành lập cùng với Trường ÐHSP Việt Bắc ngày 18 tháng 7 năm 1966 theo quyết định số 127/CP của Chính phủ Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Địa điểm đặt tại xóm Trại Tre, xã Vinh Quang, huyện Ðại Từ tỉnh Bắc Thái (Nay là tỉnh Thái Nguyên), với nhiệm vụ đào tào giáo viên giảng dạy vật lý ở trường THPT và nghiên cứu khoa học.

  Tháng 10 năm 1966 Khoa tổ chức lễ khai giảng khoá đầu tiên với 18 cán bộ và 58 sinh viên. Thày Ðào Văn Phúc là Chủ nhiệm Khoa. Giai đoạn đầu từ năm 1966 - 1970, Khoa xây dựng tại xã Vinh Quang, huyện Ðại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Đây là giai đoạn vô cùng gian khổ, thầy trò vừa xây dụng cơ sở vật chất vừa giảng dạy và học tập trong điều kiện chiến tranh.

    Năm 1971 Khoa chuyển về xây dựng cơ sở mới tại Mỏ Bạch, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên.

    Ðầu năm 1972, do sự leo thang trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Ðế quốc Mỹ, thày và trò Khoa Vật lý lại phải sơ tán về xã Ðộng Ðạt, huyện Phú Lương, tỉnh Bắc Thái.

    Sau Hiệp định Pari, năm 1973 Khoa cùng Trường lại trở về địa điểm hiện tại là phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên.

     Trong thời gian chống Mỹ cứu nước từ 1966 đến 1975, nhiều cán bộ, sinh viên Khoa Vật lý đã phải tạm dừng bút nghiên hăng hái tình nguyện lên đường ra mặt trận, có những người đã hy sinh anh dũng vì sự nghiệp giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.

    Ngày 18 tháng 3 năm 1991 Chính phủ ra quyết định số 63/HÐBT sáp nhập Trường CÐSP Việt Bắc vào Trường ÐHSP Việt Bắc, Khoa Vật lý đón nhận thêm 5 cán bộ từ Trường CÐSP Việt Bắc.

   Tháng 4 năm 1994, Ðại học Thái Nguyên được thành lập, một số cán bộ Khoa Vật lý đã được điều động sang xây dựng các cơ quan của ÐHTN và Trường ÐH Ðại cương. Năm 1997 Khoa tiếp tục được nhận 18 cán bộ từ Trường ÐH Ðại cương về Khoa công tác. Năm 2002 Khoa Khoa học thuộc ĐHTN được thành lập, 18 cán bộ này lại được điều về Khoa Khoa học làm việc.

   Đến tháng 4 năm 2015 Khoa Vật lý có 34 cán bộ, nhân viên trong đó có 30 CBGD (01 PGS , 08 TS chiếm 26,6%, 22 ThS chiếm 73,4%, 06 GVC, có 9 cán bộ đang làm NCS

   Nhiệm vụ được giao:

    + Trình độ cử nhân Sư phạm Vật lí
    + Trình độ Thạc sĩ: 02 chuyên ngành

        - Lí luận và phương pháp  dạy học vật lí

        - Vật lí chất rắn 

    + Trình độ Tiến sĩ:  Lí luận và phương pháp dạy hoc vật lí 

    + Giảng dạy Vật lí cho các khoa trong Trường ĐHSP.
    + Bồi dưỡng chuẩn hoá và bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THPT; Liên kết với các địa phương đào tạo, bồi dưỡng giáo viên các cấp.
    + Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trên các lĩnh vực Khoa học giáo dục, Khoa học tự nhiên.

    Hiện nay Khoa đang quản lý 9 phòng thí nghiệm và thực hành: Vật lý đại cương, Phương pháp giảng dạy vật lí, Nghiên cứu và xây dưng các  thí nghiêm VLPT, Điện kĩ thuật và đo lường, Điện tử, Tin học, Động cơ đốt trong, Quang phổ, Vật lý chất rắn, với các hệ đo quang phổ hấp thụ UV - VIS - NIRV670, hệ đo quang phổ huỳnh quang FS920 Edinburgh - UKkính hiển vi điện tử TM 1000. Từ các phòng thí nghiệm này đã có nhiều luận văn tốt nghiệp ĐH, ThS, luận án TS, nhiều bài báo quốc tế đã được hoàn thành, số bài báo quốc tế hàng năm chiếm gần một nửa số bài báo quốc tế của Trường.                                             

   Năm học 2014-2015 Khoa đang đào tạo 741 SV hệ đại học chính qui, 65 HV Cao học và 9 NCS.

   Gần 50 năm mươi năm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, quy mô và loại hình đào tạo của Khoa Vật lý không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên để đáp ứng được những nhiệm vụ mới của đất nước cho hiện nay và mai sau Khoa Vật lý phải không ngừng phấn đấu và phát triển. Chiến lược xây dựng và phát triển Khoa đến năm 2015 với những định hướng lớn sau:

    - Xây dựng đội ngũ có trình độ cao, giỏi về chuyên và nhiệp vụ,  phấn đấu đến năm 2020 khoa sẽ có 45% giảng viên có trình độ Tiến sĩ.

    - Đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm cung cấp cho cho đất nước đội ngũ giáo viên vật lý có chất lượng, thông qua việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất thực hành, thí nghiệm, học liệu, giảng đường; điều chỉnh chương trình đào tạo tương đương với những trường hàng đầu khu vực, sát và đáp ứng tốt các nhu cầu của cơ sở tuyển dụng.

    - Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học công nghệ theo các hướng nghiên cứu giảng dạy vật lý, vật lý chất rắn, vật lý lý thuyết, Khoa học vật liệu.

    - Mở rộng quy mô đào tạo và các ngành đạo tạo theo hướng phát triển đào tạo chất lượng cao; mở rộng đào tao Thạc sỹ và NCS. 

    -Tăng cường hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu khoa học với Hội vật lý Việt Nam, các Trường Đại học, các Viện nghiên cứu trong và ngoài nước.

IV.  Thành tích của khoa Vật lý

  1. Kết quả đào tạo chính quy:

     - Số lượng khóa đã và đang đào tạo: 49

     - Số lượng khóa đã tốt nghiệp: 45, 

     - Số lượng sinh viên đã tốt nghiệp: 3800 sinh viên

     - Tỷ lệ tốt nghiệp: 85%

  2. Kết quả đào tạo không chính quy:

     - Số lượng khóa đã đào tạọ 13  Số lượng SV: 765

     - Số lượng sinh viên đã tốt nghiệp: 710  sinh viên

      -Tỷ lệ tốt nghiệp: 95%

  3. Kết quả đào tạo sau đại học

     - Đã đào tạo 20 khóa CH với 420 học viên; Tốt nghiệp 320 học viên

     - Đã đào tạo được 2TS. Đang đào tạo 9 NCS.

  4. Kết quả NCKH từ năm 2001 - 2014

    + Đề tài NCKH của giảng viên:

        - Đã thực hiện 2 đề tài nhánh cấp nhà nước

        - Đề tài cấp Bộ: Đã thực hiện 22 đề tài, đang thực hiện 1 đề tài

        - Đề tài cấp đại học 9 đề tài, đang thực hiện 2 đề tài

        - Cấp cơ sở: Đã thực hiện 38 đề tài; Đang thực hiện 2 đề tài

    + Đề tài NCKH của sinh viênĐã thực hiện 167 đề tài; Đang thực hiện 23 đề tài. 9 SV đoạt giải SVNCKH toàn quốc.

    + Số giáo trình, đề cương bài giảng đã xuất bản: 34

    + Khen thưởng, Thành tích:

       - Giải Olympic: 13 lần đoạt giải thi OLYMPIC Vật lý  SV toàn quốc:

       - Về đồng đội1 giải dặc biệt, 2 giải nhất , 4 giải nhì, 6 giải ba

       - Về cá nhân: 80 lượt SV đoạt giải nhất, nhì, ba

       - Các giải văn nghệ- Thể dục thể thao: Các hoạt đông thể thao Khoa luôn đạt giải cao trong giải thi đấu của Nhà Trường: Như bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn.

    + Các phần thưởng đã nhận:

       - Nhiều huy chương vì sự nghiệp giáo dục.
       - 01 Bằng khen của Thủ Tướng Chính phủ năm học 2004-2005 cho tập thể Khoa vật lý.
       - 04 Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD&ÐT cho Khoa và Tổ Ðiện quang-Vật lý hiện đại.
       - 03 cá nhân được tặng Huân chương lao động hạng ba

       - 05 nhà giáo được phong tặng nhà giáo ưu tú

       - Nhiều Bằng khen của Thủ Tướng Chính phủ và Bộ trưởng cho cá nhân.

       - Từ 2010 đến 2014 đơn vị liên tục đạt danh hiệu đơn vị lao động xuất sắc